Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Gốm sứ Đông Triều và nỗi khó khăn ( Phần 1)

Đông Triều là một trong những điểm dừng chân bắt buộc của du khách trong và ngoài nước khi đến thăm khu vực vịnh Hạ Long hùng vĩ với số dân hải đảo tăng từ vùng nước trong xanh của Vịnh Bắc Bộ. Huyện Đông Triều, cách thành phố Hạ Long 60km, trên đường cao tốc 18A, sở hữu một số ngôi làng gốm nổi tiếng nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay làng gốm đang gặp nhiều khó khăn….
Sự trăn trở của doanh nghiệp

Đến 2 làng gốm sứ truyền thống Cầu Đất và Vĩnh Hồng những ngày này, chúng tôi cảm nhận thấy một không khí trầm lắng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hộ, cơ sở sản xuất cũng như các doanh nghiệp kinh doanh gốm sứ nơi đây. Đến Công ty TNHH Gốm sứ Thành Hữu, khu công nghiệp Kim Sơn, chúng tôi thấy đang có hơn 30 công nhân sản xuất để đưa vào lò nung những sản phẩm gốm sứ thuộc dòng gốm sứ nặng lửa như chậu hoa có đường kính từ 20-100cm và những chum, vại có dung tích từ 20 lít đến hàng trăm lít.
 
Những người thợ gốm đang làm việc
Anh Lê Thành Hữu, Giám đốc Công ty cho biết: Công ty chúng tôi may mắn vừa ký được một đơn hàng nên có việc cho công nhân làm chứ thực tế trong suốt thời gian qua là hoạt động sản xuất cầm chừng bởi việc tiêu thụ sản phẩm những năm gần đây vẫn đang bị “tắc”. Nhớ lại thời vàng son của nghề, anh Hữu trăn trở: Với tôi, nghề gốm sứ là nghề gia truyền. Kể từ ngày địa phương mới nhen nhóm một vài bầu lò đến khi phát triển đến 60-70 hộ sản xuất. Tuy nhiên, trong điều kiện khó khăn nhiều chủ lò đã không giữ được nghề. Nếu như trước kia, tại khu Cầu Đất, xã Đức Chính có tới 27 lò gốm thì đến nay chỉ còn 7 lò; tại khu Vĩnh Hồng có vài chục lò thì đến nay cũng chỉ còn khoảng 10 lò. Trong số 7 lò gốm tại Cầu Đất thì chỉ có 3 chủ lò đang sản xuất thực sự, còn 4 chủ lò khác có nguy cơ không “trụ” được do khó khăn trong sản xuất cũng như đầu ra cho sản phẩm. Cũng theo anh Hữu thì, khó khăn nữa đối với nghề gốm hiện nay là phần lớn các chủ lò quen với việc sản xuất manh mún nên thiếu sự liên kết trong sản xuất, khó cạnh tranh trên thị trường với các làng nghề gốm sứ khác. Cùng với đó, nhân lực cho nghề cũng không đơn giản bởi phần lớn công nhân không được đào tạo bài bản, tính chuyên nghiệp không cao.

Được biết, Công ty TNHH Gốm sứ Thành Hữu hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực gốm sứ tại xã Kim Sơn từ năm 2008. Hiện nay, Công ty có 2 dãy lò, với tổng số 23 cửa lò, chuyên sản xuất các loại chậu to, chum vại to thuộc dòng sứ nặng lửa. Nếu thời tiết thuận lợi, bình quân mỗi tháng Công ty cho ra lò 3 chuyến, với sản lượng bình quân 5.000 sản phẩm/ tháng.

Để nâng cao hiệu quả cho nghề sản xuất gốm sứ, thời gian qua nhiều doanh nghiệp trên địa bàn huyện Đông Triều đã mở rộng hình thức sản xuất, kinh doanh kết hợp với du lịch. Tuy nhiên, hình thức kinh doanh này cũng không mấy hiệu quả. Là một trong số những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh gốm sứ kết hợp với du lịch lớn nhất nhì tại Đông Triều, Công ty CP Thành Đồng (xã Bình Dương) cũng không tránh khỏi khó khăn. Ông Đoàn Văn Tuyết, Tổng Giám đốc Công ty cho hay: Từ đầu năm đến nay, do tình hình khó khăn chung, sản phẩm của Công ty đã không xuất khẩu được sang thị trường châu Âu nên doanh thu đã bị giảm đáng kể. Ông Tuyết cũng cho biết thêm: Để giữ cho làng nghề phát triển, một yếu tố không thể thiếu đó là việc khẳng định tính truyền thống. Cùng với đó, phải tạo được yếu tố cạnh tranh, trong đó có việc cải thiện mẫu mã sản phẩm giữa các hộ sản xuất thì mới giúp nghề phát triển. Bởi với các sản phẩm hàng dân dụng đòi hỏi phải đa dạng mẫu mã, thì hàng gốm trang trí nội thất càng phải đòi hỏi cao hơn, tinh xảo hơn.

Còn tiếp

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

Lịch sử nghìn năm của gốm Việt ( Phần 2)

Người nghệ sĩ gốm, vốn ưa cái đẹp, giàu óc tưởng tượng đã trang trí trên cổ, miệng, thân gốm, nhiều đồ án hoa văn tinh tế mà ngày nay nhiều nhà khảo cổ phải mất nhiều tâm trí để tìm hiểu ý nghĩa của nó. Nhìn chung, hoa văn gốm trong thời kỳ này rất phong phú: văn chấm tròn viền hai bên những đường ngang dọc, văn hình tam giác, hình thoi, văn các đường gãy khúc liên hoàn, văn hình ô vuông, hình quả trám, văn chữ S, văn chữ V nối nhau, văn chữ C, chữ X, văn hình mỏ neo, hình giun, hình lá cây, văn khuôn nhạc, văn hình chim, hình cá v.v...

Nhìn riêng từng giai đoạn thì hoa văn gốm Phùng Nguyên, gốm Gò Mun có xu hướng phát triển, mở rộng nhiều đồ án. Còn hoa văn gốm Đông Sơn, có xu hướng đơn giản hóa, chỉ phác họa vài đường nét sóng nước ở miệng và ở cổ thôi. Một số đồ án được coi là đặc trưng của gốm Phùng Nguyên như văn chữ S, chữ C, văn hình mỏ neo... không thấy xuất hiện ở gốm Gò Mun.

Bình gốm cổ

Chung quanh vấn đề hoa văn, mỗi người giải thích theo một cách hiểu riêng của mình, chẳng hạn có người cho rằng hoa văn chữ S tượng trưng cho sấm chớp; hoa văn vạch thẳng song song, vạch xiên chéo tượng trưng những hạt mưa nhiệt đới, hoa văn hình tam giác tượng trưng cho núi đồi; hoa văn hình vuông, hình quả trám tượng trưng cho ruộng, ao, đầm, v.v...

Thực ra, nếu tìm một hình ảnh nào đó trong cuộc sống để giải thích ý nghĩa hoa văn trên mặt gốm như trên thì e không chính xác. Hoa văn là những "trang trí đường viền" cho đẹp mắt, thấy nó giống hình học gọi là hình học, thấy nó giống khuôn nhạc gọi là khuôn nhạc, chứ lúc bấy giờ ở nước ta có môn hình học, môn âm nhạc mới đâu để người xưa phản ánh trên mặt gốm?

Những hoa văn chữ S, văn hình tam giác, văn chấm tròn, v.v... trang trí trên đồ gốm được lặp đi lặp lại nhiều lần trên trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Hoàng Hạ, Thạp đồng Đào Thịnh gợi cho chúng ta một ý niệm giữa kỹ thuật đồ gốm và kỹ thuật đồ đồng ở Việt Nam cùng xuất hiện trong thời đại đồng thau và chủ nhân của nó là người dân bản địa. Các học giả phương tây, với ý đồ xuyên tạc lịch sử dân tộc ta, nói rằng giữa kỹ thuật đồ gốm và kỹ thuật đồ đồng ở Việt Nam khác nhau về thời đại.

Tóm lại, khi các dân tộc trên thế giới biết sáng tạo đồ gốm để sử dụng thì dân tộc ta cũng đã sáng tạo ra đồ gốm. Đồ gốm là cái mốc đánh dấu một chuyển biến rất quan trọng trong lịch sử tiến hóa nhân loại: con người đã từ giã cuộc sống lang thang hái lượm, săn bắt của bầy người nguyên thủy để sống định cư, trồng trọt và chăn nuôi.

Ơở nước ta, những mảnh gốm được xuất hiện nhiều nhất trong nền văn hóa Bắc Sơn tức là cách ngày nay khoảng 6000 - 2000 năm trước công nguyên.

Từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17, gốm Việt Nam tham gia vào thương mại hàng hải quốc tế. Rất nhiều đồ sứ xanh và trắng Việt Nam, bao gồm các kiệt tác như bình Topkari nổi tiếng đã được xuất khẩu sang nhiều nước ở Đông Nam Á và Trung Đông. Đặc biệt, dưới triều Lê Thanh Tông (1460-1497), cả đất nước và sản xuất gốm đều có thời kỳ vàng son. Không phải ngẫu nhiên mà trong những năm cuối của thế kỷ 16, ông Đặng Huyền Thông, một thợ gốm từ trung tâm gốm sứ xanh và trắng Nam Sách đã chế tạo một số cây hương vị dưới dạng trống đồng Đông Sơn và các mẫu hình hình học Đông Sơn.
Như vậy, 2000 năm của gốm Việt Nam đã phản ánh 4000 năm lịch sử và văn hoá Việt Nam. Những gốm sứ này không chỉ là di sản văn hoá tự hào mà còn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của ngành sản xuất gốm Việt Nam trong một thế giới ngày càng hội nhập.


Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

Lịch sử nghìn năm của gốm Việt ( Phần 1)

Đồ gốm của Việt Nam xuất hiện cách đây khoảng hơn năm nghìn năm lịch sử. Trải qua thăng trầm và phát triển cho đến đỉnh cao, dụng cụ gốm bắt đầu đa dạng hơn về cả hình thức, tên gọi và phương pháp sử dụng. Ở thời kì khoảng bốn nghìn năm trước ( thời đại đồ đồng) gốm sứ Việt Nam chính thức tiến thêm một bước, gốm thời kỳ này có thêm bộ mặt mới là loại đồ đựng có nắp đậy để bảo quản ngũ cốc, chống loài gặm nhấm

Về tạo dáng, gốm văn hóa Phùng Nguyên dáng thanh, thành mỏng và thường phát triển chiều cao; gồm Đồng Đậu dáng lùn do phần thân được mở rộng. Nếu như trong nền văn hóa Gò Mun có loại nồi miệng gãy loa bằng, vò vai gãy có tai thì trong nền văn hóa Đông Sơn có những loại hình đơn giản hơn, không có xu hướng tạo thành góc gãy nữa.
Nhìn chung, hình dạng gốm thời đại đồng thau đẹp hơn, vững chắc và khỏe hơn so với gốm thời đại đồ đá mới.
Trong thời đại đồ đá mới, ông cha ta chưa biết dùng bàn xoay để nặn gốm như trong thời đại đồng thau. Phương pháp dùng bàn xoay để làm gốm đóng vai trò chủ yếu trong thời đại đồng thau. Đó là một cải tiến về kỹ thuật rất quan trọng của ông cha ta trong quá trình lao động sản xuất. Khi con người biết dùng bàn xoay thì chẳng những năng suất lao động tăng nhanh mà phẩm chất đồ gốm cũng tốt hơn, đẹp hơn, độ dày mỏng thành gốm đều nhau. Ưu điểm nổi bật của bàn xoay là có thể tạo ra những đồ gốm có kích thước lớn nhưng thành gốm rất mỏng.
 
Gốm ngày nay có nét tương đồng về hoa văn
Chất liệu gốm trong thời đại đồng thau không thuần nhất, có nơi dùng đất sét pha cát hạt to, có nơi pha cát hạt nhỏ, lại có nơi pha bã thực vật. Tuy vậy, pha chất độn thế nào đó để khi nặn xong đem phơi gốm không bị nứt, đem nung gốm không bị méo mó biến dạng và khi nung xong gốm được rắn, bền; pha thế nào để mặt gốm không thô mà mịn. Mịn là một tiêu chuẩn đẹp của gốm. Muốn đạt những điều kiện pha trộn trên, ông cha ta phải trải qua một quá trình lao động sáng tạo, dày công tích lũy kinh nghiệm.

Nhìn chung, màu sắc gốm thời đại đồng thau khá phong phú: gốm màu trắng mốc, gốm màu vàng, vàng nhạt, gốm màu đỏ nâu, đỏ nhạt và màu đen, v.v... Thậm chí, ngay một dụng cụ gốm cũng có nhiều màu, có chỗ màu đỏ nâu, có chỗ màu xám đen. Màu sắc của gốm phụ thuộc vào chất độn, cách nung và còn do độ nung quyết định nữa. Ngoài ra, con người đã sử dụng một thứ bột màu xoa hoặc rắc lên mặt gốm còn ướt để tạo ra màu sắc vừa ý họ. Gốm Phùng Nguyên có xương màu đen, mặt gốm hoặc màu đỏ hoặc màu đen, gốm Đông Sơn khoác "chiếc áo" hoặc hồng nhạt hoặc xám tro. Còn gốm Gò Mun vẫn giữ cái vẻ mộc mạc tự nhiên của đất.

Hầu hết gốm thời đại đồng thau đều được nung với mức độ khác nhau. Gốm Phùng Nguyên độ nung thấp hơn gốm Đồng Đậu; gốm Đông Sơn độ nhiệt nung cao hơn gốm Gò Mun. Tuy vậy, độ nhiệt nung gốm ở thời đại đồng thau không vượt quá 900oC.

Nói đến gốm không thể không nói đến hoa văn. Vì nó là một tiêu chuẩn về cái đẹp, là dấu ấn quan trọng để phân biệt gốm của nền văn hóa này và gốm của nền văn hóa kia. Bằng một chiếc que, cũng có thể là cọng rơm, cọng cỏ, người xưa vạch trên mặt gốm những nét cong uyển chuyển, mềm mại, những đường chìm sắc sảo. Tất cả những đường nét đó phối hợp với nhau một cách hài hòa, sinh động.

Còn tiếp

Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Công phu làm gốm tại Bàu Trúc

Khoảng 10 km từ thành phố Phan Rang, trên quốc lộ 1A, làng gốm Bầu Trúc ở thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, là một trong hai ngôi làng gốm cổ nhất ở Đông Nam Á. Một con đường nhựa dẫn khách đến làng. Cuộc sống của người dân ở đây đã dần được cải thiện tốt hơn. Hầu hết các gia đình trong làng không làm gốm nữa còn những người vẫn theo đuổi nghề gốm truyền thống thì nằm sâu trong làng.
Theo truyền thuyết, nghề làm gốm do vợ chồng ông tổ Poklong Chanh dạy cho phụ nữ trong làng từ ngàn xưa. Để tưởng nhớ công ơn của tổ nghề, bà con lập đền thờ tổ chức cúng tế Poklong Chanh vào dịp lễ hội Katê hàng năm. Ngoài nghề làm ruộng lúa, chăn nuôi gia súc thì nghề gốm được xem là ngành sản xuất chính ở địa phương. Tuy chưa thể giàu lên từ nghề gốm nhưng nhiều gia đình có cuộc sống ổn định nhờ vào bàn tay tài hoa của những người thợ gốm thủ công.

Ở làng Bàu Trúc, tất cả phụ nữ Chăm đều biết làm gốm. Các cháu gái 12-15 tuổi bắt đầu học nghề gốm, khi có chồng phải biết làm đủ các sản phẩm từ ấm đất đến lu đựng nước. Sắc đỏ gốm nung đã thấm vào máu thịt của bà con. Cả tỉnh Ninh Thuận có hàng chục làng Chăm nhưng chỉ có bàn tay phụ nữ và đất sét làng Bàu Trúc mới làm được đồ gốm. Người làm gốm gửi tình cảm, tâm linh mình vào từng đường nét hoa văn. Vì vậy sản phẩm của mỗi người thợ có những “tiếng nói” riêng không thể trộn lẫn được. Mỗi sản phẩm đã bán đi 5-10 năm, khi gặp lại họ vẫn nhận được mặt hàng do tay mình làm ra.
Các sản phẩm vô cùng đa dạng


Nghề làm gốm rất công phu. Đất sét lấy từ đồng làng về đập nhỏ. Trước khi nặn gốm phải ủ đất một đêm với lượng nước vừa phải. Sáng hôm sau, đem đất trộn với cát mịn nhào nhuyễn. Phụ nữ Chăm nặn gốm hoàn toàn bằng tay, không dùng bàn xoay như những nơi khác. Sau khi tạo dáng, sản phẩm được đem ra phơi nắng 4-6 giờ rồi dùng mảnh sàng làm láng. Mỗi gia đình sản xuất gốm mộc trong thời gian 5-10 ngày rồi đưa ra nung chín. Lò nung lộ thiên, sản phẩm gốm được ủ rơm dùng củi đốt trên những vùng đất trống trong làng. Thời gian đốt 4-5 giờ là gốm chín, có màu đỏ tươi nguyên của đất sét được tôi luyện qua lửa. Sản phẩm ra lò được những già làng chọn lựa, những sản phẩm đủ tiêu chuẩn mới được đưa ra thị trường tiêu thụ. Sản phẩm nung chưa đủ độ chín, có vết rạn nứt được loại bỏ ngay khi ra lò. Nhờ coi trọng chất lượng, sản phẩm gốm làng Bàu Trúc được thị trường các tỉnh khu vực miền Trung-Tây Nguyên tiêu thụ ổn định, hàng trăm ngàn sản phẩm mỗi năm. Sau khi trừ hết mọi chi phí, người thợ làng gốm có thu nhập mỗi ngày công lao động 20.000-25.000 đồng.

Gốm Bàu Trúc được đánh giá cao bởi khách hàng nước ngoài và chậu hoa, ghế ngồi và bồn rửa nhà trong nhà và ngoài trời được xuất khẩu sang nhiều nước như: Hàn Quốc, Đài Loan, Các tiểu vương quốc Arập thống nhất, Canada ... Nhiều doanh nghiệp địa phương hiện đang nhận thức được tiềm năng quan trọng Phát triển đồ gốm ở Bàu Trúc. Thu hút bởi nguồn nguyên liệu dồi dào, lực lượng lao động có tay nghề và điều kiện giao thông thuận lợi, họ đã đầu tư vào Bàu Trúc và tạo cơ sở vững chắc cho phát triển kinh tế trong khu vực.


Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2017

Gốm sứ Bát Tràng tiềm ẩn nguy cơ mai một ( Phần 2)

Ðầu tháng 5, Câu lạc bộ Nghệ nhân và thợ giỏi Bát Tràng được thành lập, tập hợp 18 nghệ nhân và 85 thợ giỏi. Nhiệm vụ chủ yếu của Câu lạc bộ là giữ gìn, phát huy bản sắc làng nghề. Ông Lê Văn Lợi, Trưởng Ban đại diện làng gốm Bát Tràng cho biết: “Việc ra đời câu lạc bộ có ý nghĩa rất quan trọng trong khuyến nghề, khuyến tài đối với Bát Tràng. Nhân dân Bát Tràng chúng tôi giao nhiệm vụ cho những nghệ nhân có trách nhiệm dìu dắt đội ngũ thợ giỏi. Những người thợ giỏi phải chú trọng đào tạo, rèn tay nghề cho đội ngũ thợ trẻ. Có như vậy truyền thống mới được nối tiếp”.

Nghề gốm ở Bát Tràng ngày nay đã có nhiều đổi khác. Nếu như trước kia nghệ nhân vừa làm men, vừa trực tiếp chuốt, nặn sản phẩm thì nay, sự chuyên biệt hóa rất cao. Ðiều ấy đem lại nhiều lợi thế, khiến cho những nghệ nhân khẳng định được thế mạnh riêng của mình. Thí dụ như: Nghệ nhân Trần Ðộ có tiếng trong việc phục chế men cổ, đặc biệt là men thời Trần và sáng tạo nhiều mầu men riêng; Nghệ nhân Vương Mạnh Tuấn chuyên sâu về lĩnh vực phục chế gốm cổ, nhất là những bình gốm men rạn truyền thống đắp nổi họa tiết theo các tích cổ; Nghệ nhân Lê Minh Châu chuyên làm các loại bình cỡ lớn; Nghệ nhân Nguyễn Văn Bình nổi tiếng về điêu khắc… Một số người thợ, tuy tuổi đời mới ngoài 30, nhưng tay nghề khá giỏi, là những giám đốc những doanh nghiệp lớn, thương hiệu được khẳng định trên thị trường như Nguyễn Văn Quyền, Nguyễn Tiến Ðạt… Bản thân các thương hiệu này phải cạnh tranh với nhau để phát triển. Khi tham gia Câu lạc bộ Nghệ nhân và thợ giỏi của Bát Tràng, mỗi hội viên vừa phải xây dựng thương hiệu riêng cho mình, vừa phải có trách nhiệm phát triển thương hiệu chung của làng nghề. Nói cách khác, đó là vấn đề liên kết trong sự cạnh tranh, cạnh tranh trong liên kết.

Hồn gốm tại Bát Tràng

 Trong buổi ra mắt Câu lạc bộ Nghệ nhân và thợ giỏi Bát Tràng, Nghệ nhân Vương Mạnh Tuấn, Chủ nhiệm Câu lạc bộ cho biết: Câu lạc bộ sẽ sinh hoạt đều đặn, xoay quanh các chủ đề chính như: sáng tạo mẫu mã, kỹ thuật đốt lò, kỹ thuật làm men, tổ chức các cuộc giao lưu với giới văn nghệ sĩ để có thêm ý tưởng sáng tác… Bên cạnh giữ bí quyết riêng, các nghệ nhân sẽ trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với nhau về những vấn đề nêu trên. Câu lạc bộ cũng chú trọng vào việc truyền nghề giữa các thế hệ, vận động con em trong làng thi vào các trường mỹ thuật để các cháu đem kiến thức phục vụ cho nghề gốm. Ðây chính là một sự thay đổi lớn so trước kia. Theo nhiều nghệ nhân, trước đây mỗi gia đình, dòng họ thường giữ bí quyết sản xuất riêng của mình. Việc không có sự giao lưu, hợp tác giữa các lò gốm khác khiến một số hạn chế trong kỹ thuật sản xuất rất khó được khắc phục. Sự hợp tác giữa các nghệ nhân, thợ giỏi sẽ bổ khuyết cho những nhược điểm của từng thương hiệu, qua đó, góp phần phát triển thương hiệu chung của làng nghề.


Thời xưa, người Bát Tràng đã để lại cho hôm nay những tác phẩm gốm rất giá trị. Người Bát Tràng ngày nay phải phấn đấu tạo ra tác phẩm có giá trị cao, không chỉ cho hôm nay mà còn. Làng gốm Bát Tràng đã trở thành điểm đến phổ biến cho người trẻ tuổi ở Hà Nội (sinh viên cao đẳng hoặc trung học) đến tham quan vào cuối tuần. Nó cũng trở nên nổi tiếng trong số khách du lịch nước ngoài, những người muốn hiểu thêm về các giá trị lịch sử và truyền thống trong mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Có rất nhiều cơ quan du lịch cung cấp một ngày du lịch từ Hà Nội đến làng với giá cả hợp lý. Chọn một tour du lịch làng nghề truyền thống Hà Nội để thăm hai làng nghề thủ công nổi tiếng ở ngoại ô Hà Nội: Làng gốm Bát Tràng và Làng Vạn Phúc. Chắc chắn bạn sẽ tìm thấy nó phù hợp nhất với khung thời gian của bạn và có thể mua một số đồ gốm làm quà lưu niệm cho chuyến đi của bạn ở Việt Nam.


Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Gốm sứ Bát Tràng tiềm ẩn nguy cơ mai một ( Phần 1)

Làng Bát Tràng được cho là được thành lập vào thế kỷ 14 hoặc 15 trong một số tài liệu. Tuy nhiên, theo các dân làng, làng có lẽ đã xuất hiện trước đó. Luôn luôn có hai câu chuyện liên quan đến nguồn gốc của làng. Một trong số đó cho biết dưới triều Lý, vào năm 1100, khi quốc gia này đang trong giai đoạn phát triển độc lập và tăng trưởng ban đầu, có 3 học giả đã trở lại từ chuyến đi công tác sang Trung Quốc đưa ngành thủ công gốm sứ học lại ở Việt Nam và Người Bát Tràng. Trong câu chuyện khác, trong lịch sử làng quê bắt đầu từ thế kỷ thứ 10, khi vua Lý Công Uẩn di dời thủ đô Thăng Long. Với sự hình thành và phát triển của thủ đô, nhiều doanh nhân, doanh nhân từ nhiều khu vực đến định cư ở đây để làm việc và buôn bán. Ở Bát Tràng, có rất nhiều đất sét trắng, vì vậy nhiều thợ gốm, trong đó có gia đình Nguyễn Ninh Trang, đã đến và xây lò nung ở đây. Theo đó, Bát Tràng dần dần thay đổi từ một làng gốm sứ bình thường thành một trung tâm gốm sứ nổi tiếng cho đến nay.

Làng Gốm Bát Tràng có lịch sử khoảng 1000 năm tuổi, gắn liền với sự ra đời của kinh thành Thăng Long. Với lợi thế về vị trí địa lý, chỉ cách trung tâm thành phố hơn mười km, giao thông đường thủy, đường bộ đều thuận tiện, nghề gốm Bát Tràng không chỉ là niềm tự hào của văn hóa Hà Nội, mà còn đem lại lợi ích kinh tế rất lớn cho người dân địa phương. Xã Bát Tràng có hai thôn là Bát Tràng và Giang Cao, cả hai đều được công nhận là làng nghề cổ truyền của thành phố. Trong số 1.800 hộ gia đình của xã, có đến hơn 80% số hộ dân làm nghề gốm. Chưa kể, mỗi năm làng nghề còn tạo việc làm cho hàng nghìn lao động từ các địa phương khác. Với giá trị sản xuất toàn xã năm 2011 đạt 405 tỷ đồng, có thể coi đây là một trong những làng nghề giàu nhất cả nước.
Hoa văn đặc sắc thể hiện văn hóa

Vẻ đẹp của gốm Bát Tràng được tạo nên bởi thứ xương gốm mầu trắng, bên ngoài phủ các loại men khác nhau. Mầu men chính là thứ tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của gốm Bát Tràng, với những loại men đã đi vào lịch sử của gốm Việt như: men ngọc, men lam, men trắng, men rạn, men búp dong, men nâu… và vô số những biến thể mầu sắc khác, được tạo ra qua hàng nghìn năm lịch sử. Sản phẩm của Bát Tràng vừa thể hiện sự khéo léo của nghệ nhân, vừa mang nét sáng tạo của người nghệ sĩ.
Thế nhưng, thời gian gần đây, những người yêu mến gốm Việt nói chung, gốm Bát Tràng nói riêng, không khỏi chạnh lòng khi nhìn ngắm những sản phẩm bày bán trong những cửa hàng tại địa phương. Không ít sản phẩm là hàng nhập khẩu từ nước ngoài, hoặc được thu mua từ các làng gốm khác trong nước. Thậm chí, có cơ sở còn sản xuất hàng Bát Tràng “nhái” bằng cách nhập gốm sản xuất ở nơi khác, in nhãn Bát Tràng, rồi cho vào lò hấp, khiến khách hàng không tinh ý không thể phân biệt được đâu là hàng thật, đâu là hàng giả. Gốm Bát Tràng vốn có xương gốm mầu trắng (tức cao lanh, nên có thời làng nghề có tên Bạch Thổ phường). Nhưng giờ, khá nhiều gia đình sản xuất những mặt hàng gốm sành, tức loại gốm dùng cốt bằng đất sét, cho ra xương gốm đỏ hoặc nâu đỏ – đây  nét là đặc trưng của các dòng gốm Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh… Mặc dù không đồng tình với cách làm này của một số cơ sở sản xuất, song chính quyền địa phương và Hiệp hội Gốm mỹ nghệ Bát Tràng cũng không thể cấm các cơ sở không được làm như vậy. Vì đã mở ra kinh doanh, ai cũng tính đến lợi nhuận.

Trước những thách thức ấy, việc gìn giữ và phát huy bản sắc của Bát Tràng trở nên cấp thiết. Những nghệ nhân Bát Tràng quan niệm cần phải lấy “xây” để “chống”. Việc tập hợp những nghệ nhân, thợ giỏi vào một tổ chức nghề nghiệp vừa tạo ra những điều kiện để những người làm nghề nâng cao tay nghề, phát triển sản xuất, khẳng định thương hiệu, đồng thời, cũng là biện pháp để loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong hoạt động sản xuất và kinh doanh tại làng nghề.

Còn tiếp

Chế tác gốm tại làng nghề Bát Tràng ( Phần 2)

Tiếp tục với các quy trình cuối của việc chế tác gốm tại Bát Tràng, chúng ta sẽ hiểu rõ những bước cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến "thần sắc" và chất lượng sản phẩm như thế nào
5. Trang trí hoa văn
Thợ gốm Bát Tràng dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn hoạ tiết. Thợ vẽ gốm phải có tay nghề cao, hoa văn học tiết phải hài hoà với dáng gốm, các trang trí hoạ tiết này đã nâng nghề gốm lên mức nghệ thuật, mỗi cái là một tác phẩm. Thợ gốm sứ Bát Tràng cũng đã dùng rất nhiều hình thức trang trí khác, có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu...
6. Chế tạo men
Thợ làm gốm Bát Tràng thường quen sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kĩ trộn đều với nhau rồi khuấy tan trong nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên và bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các "dị" lơ lửng ở giữa, đó chính là lớp men bóng để phủ bên ngoài đồ vật
7. Tráng men sản phẩm gốm sứ
Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung. Người thợ gốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh.
Bình gốm hoa văn độc đáo

8. Đem nung sẩn phẩm gốm sứ
Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm. Vì thế giờ phút nhóm lò trở nên thiêng liêng trọng đại với người thợ gốm. Người thợ cả cao tuổi nhất thắp ba nén hương và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa phù giúp. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò.
Sau khi nung xong người ta bịt hết các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa để làm nguội từ từ. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày 2 đêm, sau đó mới mở cửa lò và để tiếp 1 ngày 1 đêm nữa rồi mới tiến hành ra lò, phân loại và sửa chữa các khuyết tật trước khi mang phân phối.
Như vậy là kết thúc quy trình làm gốm tại Bát Tràng rồi nhé!. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệm quy tình làm gốm đã được rút ngắn lại, nhanh và đọ rủi ro thấp hơn rất nhiều. Tuy nhiên, rất nhiều nghệ nhân vẫn còn tiếc nuối với phương pháp làm gốm truyền thống.

Làm gốm truyền thống không chỉ được xem là nghề nghiệp kiếm sống mà đã được xem trọng như là một giá trị tinh thần thể hiện văn hóa của vùng đất lẫn cảm nhận của người nghệ nhân. Một số nhà sản xuất và xuất khẩu tích cực tìm kiếm thị trường mới, đưa thương hiệu và sản phẩm của họ thành công rộng ra cho các khu vực, góp phần ổn định tổng doanh thu xuất khẩu của cả nước từ gốm sứ. Hơn nữa, với chi phí xây dựng thương hiệu cao và phát triển trên thị trường quốc tế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn đầu tư nhiều hơn để đưa sản phẩm của mình đến với khách hàng nước ngoài. Do đó, nhiều khách hàng mới ở nước ngoài đang dần dần nhận ra những sản phẩm gốm sứ Việt Nam có đặc điểm độc đáo, và vô cùng hữu dụng.